Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2017

VUI HỘI NGUYÊN TIÊU


          Rằm tháng giêng – thời điểm Tết đã đi qua nhưng vẫn chưa hết hẳn, mùa xuân vẫn còn nồng nàn. Năm mới đã sang, vạn vật đang sinh sôi, lòng người đang rạo rực. Như thường lệ, trường THCS Lý Tự Trọng tổ chức vui hội Nguyên Tiêu nhằm phát huy truyền thống và hưởng ứng ngày hội này vào.
          Sáng nay, sáng ngày Rằm Tháng Giêng (tức ngày 11 tháng 2 năm 2017), ngày hội Nguyên Tiêu xuân Đinh Dậu đã được khai mạc. Mở đầu là các tiết mục văn nghệ chào mừng ngày hội. Bài hát “Tìm Trăng” do cô giáo Đoan Thục trình bày, cô Thanh Thúy với ca khúc đầy ý nghĩa “Âm thanh ngày mới”. Ngày hội như rộn ràng hơn với ca khúc “Điệp khúc mùa xuân” do 2 em Khánh Linh và Kim Oanh thể hiện.

          Sau phần trình diễn văn nghệ, cô giáo Nguyễn Thị Tâm Hiền – Hiệu trưởng nhà trường phát biểu khai mạc ngày hội. Đồng thời để giúp các em học sinh hiểu rõ hơn vê ý nghĩa ngày Tết Nguyên Tiêu, cô Nguyễn Thị Thanh Thủy – tổ trưởng tổ Ngữ Văn đã giúp chúng em điều đó.
          Trong hội trường, có nhiều phần thi diễn ra thật tưng bừng rộn rã. Các tiết mục đọc thơ, văn nghệ nối tiếp nhau phục vụ cho buổi lễ hội. Phần thi viết thư pháp giữa các lớp đã bắt đầu. Hình ảnh ông đồ xưa đã được tái hiện qua phần thi viết thư pháp. Các ông đồ của các lớp đang thanh thản những nét như phượng múa rồng bay đã thực sự đưa chúng ta về với nét văn hóa vốn quý của dân tộc. Các bạn đang thả hồn mình vào những vần thơ ngọt ngào và sâu lắng. Song song với hoạt động này, các bạn thi chụp ảnh với những phương tiện chụp ảnh trên tay sôi nổi ghi lại các khoảnh khắc diễn ra trong ngày hôm nay.

Trong phòng học số 12, các bạn đại diện từng lớp đang trổ tài làm hoa để bàn. Những giỏ hoa rực rỡ, khéo léo với đủ màu sắc đã mang đến cho ngày Tết Nguyên Tiêu sự thành công.

Hấp dẫn không kém là phần thi viết phóng sự cho ngày Tết Nguyên Tiêu. Các nhà báo tương lai đang tập trung với những tác phẩm của mình trong căn phòng tĩnh mịch. Mỗi người một vẻ nhưng ai cũng đều mang tâm trạng phấn khởi trong cảm xúc và hòa mình với ngọn bút.
          Đối với học sinh trường tôi, ngày Tết Nguyên Tiêu đã mang đến cho chúng tôi sự hồ hỡi, phấn khởi. Trên gương mặt các bạn, ai ai cũng ánh lên niềm vui, sự rạng rỡ. Chắc chắn, sau những giờ phút đầy ý nghĩa này, các bạn sẽ nỗ lực hơn trong học tập và cố gắng phát huy hơn những khả năng của mình trong các hội thi và trong cuộc sống. Tết Nguyên Tiêu đã mang đến cho chúng em sự hồ hỡi và để lại những dư âm tốt đẹp, lưu lại những kỷ niệm đáng nhớ. Ôi yêu quá ngày Tết Nguyên Tiêu!


                                                                                                                                                                                                         Nguyễn Bảo Chi   

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2017

Nguồn gốc và ý nghĩa của Tết Nguyên Tiêu

Ngày rằm tháng giêng âm lịch là tết Nguyên Tiêu một trong những ngày tết truyền thống, cũng là ngày cuối trong cả dịp Tết Xuân.
Tết Nguyên Tiêu cũng gọi là Nguyên Tịch, Nguyên Dạ còn gọi là tết Thượng Nguyên. Đêm rằm tháng giêng là đêm trăng tròn đầu tiên trong năm mới theo Âm lịch. Đêm hôm đó, trong dân gian TQ từ trước đến nay đều có tập trước treo hoa đăng, vì vậy Tết Nguyên Tiêu còn gọi là tết “Hoa Đăng”.
Ngắm đèn ăn bánh trôi là hai phong tục chính trong ngày tết Nguyên Tiêu của người Trung Quốc. Vậy tại sao Tết Nguyên Tiêu lại treo đèn ? nghe nói, năm 180 trước Công nguyên, vua Hán Văn- nhà vua đời Tây Hán của TQ được lên ngôi đúng vào ngày rằng tháng giêng. Để chúc mừng, nhà vua Hán Văn quyết định lấy ngày rằm tháng giêng là ngày hội Hoa Đăng. Hàng năm vào tối ngày rằm tháng giêng, nhà vùa đều ra khỏi cung để đi dạo cùng chung vui với người dân. Ngày hôm đó, nhà nào nhà nấy, trên khắp các ngả đường, thôn xóm đều treo đủ các loại đèn với muôn hình nghìn vẻ để mọi người thưởng thức. Đến năm 104 trước công nguyên, tết Nguyên Tiêu đã chính thức trở thành ngày tết lớn của nhà nước. Quyết định này, khiến quy mô của ngày tết Nguyên Tiêu được mở rộng hơn nữa. Theo quy định, ở những nơi công cộng và nhà nào nhà nấy đều phải chăng đèn kết hoa, nhất là những khu phố đông đúc và trung tâm văn hóa phải tổ chức hội Hoa Đăng, triển lảm Hoa Đăng rất long trọng; Già trẻ gái trai đi xem hoa Đăng , đoán câu đối trên Hoa đăng, múa đèn Rồng thâu đêm v,v, về sau năm nào cũng vậy, dần dần thành thói quen và truyền từ đời này sang đời khác. Theo ghi chép, năm 713 trước công nguyên, ở kinh thành Trường An trong đời nhà Đường đã làm “núi đèn” rất lớncao khoảng 7 mét, với hơn 50 nghìn các loại đèn màu.
Những đèn màu trong ngày tết Nguyên Tiêu, thường làm bằng giấy màu sặc sỡ, với đủ các tạo hình như non nước, các kiến trúc, các nhân vật, Hoa cỏ, chim muông v,v,trong đó đèn ngực bay là có đặc sắc của TQ nhất. Đèn ngực bay là một trò chơi, nghe nói đã hơn một nghìn năm lịch sử. Trong đèn này có lắp một bánh xe, khi thắp chiếc nến trong trong đèn, thì nhiệt độ lên cao khiến cho bánh xe quay, qua đó đẩy con ngựa giấy trên bánh xe chạy. Bóng ngựa hiện lên chụp đèn, nhìn từ bên ngoài như thấy ngực đang phi nược đại, trông rất sống động.
Tết Nguyên Tiêu ăn bánh trôi cũng là một tập tục lớn. Vào khoảng đời nhà Tống (năm 960 công nguyên cho đến năm 1279 công nguyên), khi ăn tết này, trong dân gian bắt đầu thịnh hành một loại thức ăn mới lạ. Nhân bằng các loại hoa quả, bên ngoài lấy bột gạo nếp gói thành từng viên tròn, rồi nấu chín, ăn thơm ngon, ngon miệng. Về sau gọi là “bánh trôi”. Bánh trôi phát triển đến tận ngày nay, phong vị bánh trôi của mỗi địa phương cũng không giếng nhau.
Trong ngày tết Nguyên Tiêu, ngoài ngắm đèn, ăn bánh trôi, còn có rất nhiều hoạt động vui chơi giải trí khác như diễu hành, múa lân sư rồng…

Tết Nguyên Tiêu của người Việt Nam

Phật giáo trong hơn ngàn năm du nhập vào Việt Nam đã gắn kết các phong tục văn hóa của Việt. Rằm tháng giêng không phải là một ngoại lệ, từ một ngày lễ hội xa lạ có nguồn gốc từ Trung Hoa đã biến đổi thành một ngày Tết mang bản sắc rất riêng của người dân Việt thấm nhuần Phật pháp. Rằm tháng giêng làm một trong 4 ngày rằm lớn trong năm mà người Việt đặc biệt là Phật tử thường viếng chùa lễ Phật cầu gia đạo bình an, phong điều vũ thuận, quốc thái dân an. So với rằm tháng Tư (Phật đản) và rằm tháng Bảy (Vu Lan) thì rằm tháng giêng không quan trọng bằng.
Do rằm tháng giêng trùng hợp với lễ Thượng nguyên và Tết Nguyên tiêu trong dân gian, đồng thời ngày này là rằm đầu tiên của năm mới, thời điểm thích hợp nhất để cầu nguyện an lành cho cả năm, nên thu hút sự tham gia đông đảo của giới Phật tử và toàn thể dân chúng. Thành ngữ “Lễ Phật quanh năm không bằng rằm tháng Giêng” đã nói lên tầm quan trọng của hội rằm tháng Giêng trong tâm thức người Việt
Đối với hầu hết các chùa Việt, trọng tâm của hội rằm tháng Giêng là lễ cầu quốc thái dân an, cầu nguyện an lành, khỏe mạnh, no đủ, thịnh vượng và phát triển cho bá tánh và đất nước. Vì thế, ngày càng đông người đến chùa, lễ Phật, cầu nguyện trong hội rằm tháng Giêng là một tín hiệu tốt, thể hiện rõ nét tinh thần “Đạo pháp và Dân tộc”. Khi chùa chiền được tự do sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo, được sửa chữa trùng tu to đẹp khang trang cùng với sự quan tâm khôi phục các lễ hội văn hóa truyền thống dân tộc của các cấp chính quyền và nhất là ý thức tìm về những giá trị sống của tổ tiên thông qua các lễ hội văn hóa của nhân dân được đánh thức, thì việc tham dự đông đảo các lễ hội như hội rằm tháng Giêng là điều bình thường.
Khá nhiều chùa chiền nhân dịp tết Nguyên Tiêu đã lập đàn Dược Sư, tụng kinh Dược Sư trong suốt tháng Giêng (hoặc từ mùng 8 đến rằm tháng Giêng), khuyến khích Phật tử tham gia tụng niệm rồi phục nguyện hồi hướng công đức an lành cho Phật tử. Thiết nghĩ, đây cũng là một cách tu tập, cầu nguyện có hiệu quả nhất để đem lại phước báo an lành như mong cầu của mọi người trước thềm năm mới.

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2017

NGUỒN GỐC NGÀY TẾT CỔ TRUYỀN - TẾT NGUYÊN ĐÁN

Tết Nguyên Đán là ngày lễ có ý nghĩa nhân văn vô cùng sâu sắc, đây là ngày để mọi con người đều đoàn tụ với gia đình, trở về quê hương và nhớ về tổ tiên.

  Tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống của Việt Nam, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây.
   Tết Nguyên Đán Việt Nam có ý nhĩa nhân văn vô cùng sâu sắc, thể hiện sự trường tồn cuộc sống, khao khát của con người về sự hài hòa Thiên – Địa – Nhân. Tết Nguyên Đán là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên trong tinh thần văn hóa nông nghiệp; với gia tộc và xóm làng trong tính cộng đồng dân tộc; với niềm tin thiêng liêng, cao cả trong đời sống tâm linh…
   Tết Nguyên Đán (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, Tết năm mới hay chỉ đơn giản: Tết) là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam và một số các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc khác.
   Nguyên nghĩa của chữ “Tết” chính là “tiết”. Hai chữ “Nguyên Đán” có gốc chữ Hán; “nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và “đán” là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán” (Tết Nguyên Đán được người Trung Quốc ngày nay gọi là Xuân tiết, Tân niên hoặc Nông lịch tân niên).
   Do cách tính của âm lịch Việt Nam có khác với Trung Quốc cho nên Tết Nguyên Đán của người Việt Nam không hoàn toàn trùng với Tết của người Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Quốc khác.
   Vì Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch. Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên Đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).
Nguồn gốc Tết Nguyên Đán
   Nguồn gốc của tết vẫn còn đang được tranh cãi đó, nhưng hầu hết thông tin đều cho rằng ngày tết Nguyễn Đán có nguồn gốc từ Trung Quốc và được du nhập về Việt Nam trong 1000 năm bắc thuộc. Nhưng theo sự tích "Bánh chưng bánh dày" thì người Việt đã ăn tết từ trước thời vua Hùng, nghĩa là trước 1000 năm bắc thuộc.

   Có thể thấy tết ở Việt Nam đã có từ rất lâu, trước thời Tam Hoàng Ngũ Đế. Khổng Tử đã viết trong cuốn Kinh Lễ: "Ta không biết Tết là gì, nghe đâu đó là tên của một ngày lễ hội lớn của bọn nguời Man, họ nhảy múa như điên, uống rượu và ăn chơi vào những ngày đó Sách Giao Chỉ Chí cũng có đoạn viết “Bọn người Giao Quận thường tập trung lại từng phường hội nhảy múa hát ca, ăn uống chơi bời trong nhiều ngày để vui mừng một mùa cấy trồng mới,không những chỉ có dân làm nông mà tất cả người nhà của Quan lang, Chúa động cũng đều tham gia lễ hội này". Như vậy có có thể nói Tết Nguyên Đán có nguồn gốc từ Việt Nam. Tết của hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc có ảnh hưởng lẫn nhau, nhưng vẫn có những đặc trưng riêng của hai quốc gia.
Ý nghĩa sâu sắc của ngày Tết Nguyên Đán đối với người Việt Nam
   Tết Nguyên Đán biểu hiện sự giao cảm giữa trời đất và con người với thần linh. Xét ở góc độ mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Tết – do tiết (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông – có một ý nghĩa đặc biệt đối với một xã hội mà nền kinh tế vẫn còn dựa vào nông nghiệp làm chính.
   Theo tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ quan niệm “Ơn trời mưa nắng phải thì”, người nông dân còn cho đây là dịp để tưởng nhớ đến các vị thần linh có liên quan đến sự được, mất của mùa màng như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước, thần Mặt trời… người nông dân cũng không quên ơn những loài vật, cây cối đã giúp đỡ, nuôi sống họ, từ hạt lúa đến trâu bò, gia súc, gia cầm trong những ngày này.

   Người Việt Nam có tục hằng năm mỗi khi Tết đến, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu đều mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, thăm lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà,… được sống lại với những kỷ niệm đầy ắp yêu thương của tuổi thơ yêu dấu. “Về quê ăn Tết”, đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về với cội nguồn, nơi chôn rau cắt rốn.
   Theo quan niệm của người Việt Nam, ngày Tết đầu xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng làng xóm được mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho cả xã hội: tình cảm gia đình, tình cảm thầy trò, bệnh nhân với thầy thuốc, ông mai bà mối đã từng tác thành đôi lứa, bè bạn cố tri…

   Tết cũng là ngày đoàn tụ với cả những người đã mất. Từ bữa cơm tối đêm 30, trước giao thừa, các gia đình đã thắp hương mời hương linh ông bà và tổ tiên và những người thân đã qua đời về ăn cơm, vui Tết với con cháu (cúng gia tiên). Trong mỗi gia đình Việt Nam, bàn thờ gia tiên có một vị trí rất quan trọng. Bàn thờ gia tiên ngày Tết là sự thể hiện lòng tưởng nhớ, kính trọng của người Việt đối với tổ tiên, người thân đã khuất với những mâm ngũ quả được lựa chọn kỹ lưỡng; mâm cỗ với nhiều món ngon hay những món ăn quen thuộc của người đã mất.
   Từ đây cho đến hết Tết, khói hương trên bàn thờ gia tiên quyện với không khí thiêng liêng của sự giao hòa vũ trụ làm cho con người trở nên gắn bó với gia đình của mình hơn bao giờ hết. Để sau Tết Nguyên Đán, cuộc sống lại bắt đầu một chu trình mới của một năm. Mọi người trở về với công việc thường nhật của mình, mang theo những tình cảm gia đình đầm ấm có được trong những ngày Tết để hướng đến những niềm vui trong cuộc sống và những thành công mới trong tương lai.
   Tết là ngày đầu tiên trong năm mới, mọi người có cơ hội ngồi ôn lại việc cũ và “làm mới” mọi việc. Việc làm mới có thể được bắt đầu về hình thức như dọn dẹp, quét vôi, sơn sửa trang trí lại nhà cửa. Sàn nhà được chùi rửa, chân nến và lư hương được đánh bóng. Bàn ghế tủ giường được lau chùi sạch sẻ. Người lớn cũng như trẻ con đều tắm rửa và mặc quần áo mới. Đây cũng là dịp mọi người làm mới lại về phần tình cảm và tinh thần để mối liên hệ với người thân được gắn bó hơn, tinh thần thoải mái, tươi vui hơn… Bao nhiêu mối nợ nần đều được thanh toán trước khi bước qua năm mới. Với mỗi người, những buồn phiền, cãi vã được dẹp qua một bên. Tối thiểu ba ngày Tết, mọi người cười hòa với nhau, nói năng từ tốn, lịch sự để mong suốt năm sắp tới mối quan hệ được tốt đẹp.
   Người Việt Nam tin rằng những ngày Tết vui vẻ đầu năm báo hiệu một năm mới tốt đẹp sẽ tới. Năm cũ đi qua mang theo những điều không may mắn và năm mới bắt đầu mang đến cho mọi người niềm tin lạc quan vào cuộc sống. Nếu năm cũ khá may mắn, thì sự may mắn sẽ kéo dài qua năm sau.Với ý nghĩa này, Tết còn là ngày của lạc quan và hy vọng.
   Tết là sinh nhật của tất cả mọi người, ai cũng thêm một tuổi vì thế câu nói mở miệng khi gặp nhau là mừng nhau thêm một tuổi. Người lớn có tục mừng tuổi cho trẻ nhỏ và các cụ già để chúc các cháu hay ăn chóng lớn và ngoan ngoãn, học giỏi; còn các cụ thì sống lâu và mạnh khoẻ để con cháu được báo hiếu và hưởng ân phúc.
   Người Việt chọn ngày Tết làm cơ hội để tạ ơn. Con cái tạ ơn cha mẹ, cha mẹ tạ ơn ông bà, tổ tiên, nhân viên tạ ơn cấp chỉ huy. Ngược lại, lãnh đạo cũng cảm ơn nhân viên qua những buổi tiệc chiêu đãi hoặc quà thưởng để ăn Tết…

LỊCH SỬ RA ĐỜI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

          Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đế quốc Pháp lại đẩy mạnh khai thác thuộc địa Đông Dương. Xã hội Việt Nam tiếp tục phân hóa sâu sắc. Giai cấp nông dân bị phá sản khốc liệt. Giai cấp tư sản dân tộc sinh sau đẻ muộn, bộc lộ sự non yếu về mọi mặt. Một bộ phận giai cấp tiểu tư sản toan phất ngọn cờ tư tưởng tư sản để tập hợp quần chúng xung quanh Việt Nam Quốc dân Đảng (thành lập tháng 12-1927). Nhưng vì bất lực cho nên sau cuộc bạo động non ở Yên Bái (đầu năm 1930) tổ chức đó tan rã, và ngọn cờ phản đế, phản phong, ngọn cờ giải phóng dân tộc chuyển hẳn về tay gai cấp vô sản.
Yêu cầu khách quan lúc này là giai cấp công nhân phải được tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê-nin để trở thành giai cấp "Tự giác" vươn lên đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Đó cũng là lúc đồng chí Nguyễn ái Quốc, tiêu biểu cho tinh thần yêu nước và cách mạng Việt Nam tìm gặp chân lý của thời đại mới.
Năm 1917, cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Mặc dù bị đế quốc bưng bít, xuyên tạc, nhưng "nhân dân Việt Nam cũng thầm nghe nói rằng ở một góc trời xa xăm, có một dân tộc đã đánh đuổi được bọn bóc lột và hiện đang quản lý lấy đất nước mình mà không cần tới bọn chủ và bọn toàn quyền (lời Hồ Chủ tịch).
"Cho một bát vàng không bằng chỉ đàng làm ăn". Cách mạng Tháng Mười Nga đã giúp đồng chí Nguyễn ái Quốc vượt qua sự hạn chế của chủ nghĩa yêu nước của các sĩ phu và của các nhà cách mạng có xu hướng tư sản đương thời. Sau này, phát biểu về cảm xúc của mình khi đọc "luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa, của Lê-nin, Người viết: "Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ. Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta". (Hồ Chí Minh - vì độc lập tự do vì chủ nghĩa xã hội). Tháng 12-1920, tại Đại hội Tua, đồng chí Nguyễn ái Quốc tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp và đồng thời là người cộng sản Việt Nam đầu tiên.
Sớm nhận thấy vai trò lịch sử của giai cấp công nhân, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã đem hết tinh thần và nghị lực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, chuẩn bị về chính trị và tư tưởng cho sự ra đời của chính đảng vô sản ở Việt Nam. Hàng loạt bài viết của Người đăng trên các báo và tạp chí Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân và cuốn sách nổi tiếng Bản án chế độ thực dân Pháp, trong suốt thời gian từ 1921-1926 đã chọc thủng tấm lưới thép của thực dân Pháp, được chuyển về Việt Nam, lôi cuốn đặc biệt những người cách mạng trẻ tuổi đầy nhiệt huyết ở nước ta đang khao khát con đường mới.
Tháng 12-1924, sau khi dự đại hội lần thứ năm Quốc tế Cộng sản, với bí danh là Lý Thụy, Người về Quảng Châu, điểm nóng của cách mạng Trung Quốc, và làm việc dưới danh nghĩa của phái bộ Bô-rô-đin, cố vấn Liên - Xô bên cạnh chính phủ Quốc Dân Đảng Trung Hoa.
Chính ở đây, ngày 19-6-1924, liệt sĩ Phạm Hồng Thái đã ném bom khách sạn Victory ở Sa-diện nhằm giết tên toàn quyền Méc-lanh trên đường công cán đang dự tiệc. Việc không thành, nhưng tấm gương của người anh hùng trên sông Châu như "chim én" báo hiệu mùa xuân".
Tháng 6-1925, trên cơ sở tổ chức yêu nước của Phan Bội Châu và Tâm Tâm Xã, đồng chí Nguyễn ái Quốc thành lập tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, trong đó hạt nhân là Cộng sản Đoàn (lúc đầu có 7 người, cuối 1926 đã có 24 người, tiêu biểu như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong...) Nhiều lớp huấn luyện chính trị được mở tại Quảng Châu để đào tạo cán bộ tung về nước hoạt động. Tuần báo Thanh niên từ tháng 6-1926 và đặc việt cuốn Đường cách mạng (xuất bản năm 1927) đã đề cập đến những vấn đề chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam được bí mật đưa về nước góp phần tích cực vào việc truyền bá tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở trong nước.
Từ sau cuộc bãi công Ba Son (8-1925), phong trào công nhân đã vượt qua giai đoạn tự phát, bước vào giai đoạn tự giác.
Đặc biệt từ mùa xuân 1928, thực hiện chủ trương vô sản hóa, các hội viên của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội đã vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền để tuyên truyền và tổ chức công nhân. Địch phải thú nhận: năm 1929 có tới 43 cuộc bãi công lớn. Phong trào công nhân trên thực tế đã trở thành lực lượng chính trị nòng cốt cho phong trào giải phóng dân tộc.
Trong khi đó, phong trào yêu nước và dân chủ của tiểu tư sản sau thời kỳ phát triển bồng bột (như đòi tha cụ Phan Bội Châu tháng 12-1925, đám tang cụ Phan Chu Trinh tháng 3-1926)... đã dần dần thể hiện sự bất lực của tư tưởng tư sản và tiểu tư sản.
Phong trào Quốc gia cải lương, tiêu biểu là đảng Lập Hiến của Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long cũng đã từng bước đi vào con đường phản bội dân tộc, làm tay sai cho đế quốc.
Tình hình đó đòi hỏi cấp bách sự lãnh đạo của một đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Trong nội bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, từ đầu 1929 đã diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa quan điểm vô sản và quan điểm tiểu tư sản xung quanh vấn đề thành lập Đảng cộng sản ở Việt Nam. Tư tưởng vô sản đã chiến thắng.
Tháng 3-1929, tại số nhà 5D phố Hàm Long (Hà Nội) Chi bộ cộng sản đầu tiên ra đời gồm 8 đồng chí: Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trần Văn Cung, Trịnh Đình Cửu...
Đầu tháng 6-1929, tại số nhà 312 phố Khâm Thiên (Hà Nội) 20 đại biểu cộng sản Bắc Kỳ quyết định lập Đông Dương Cộng Sản Đảng.
Mấy tháng sau, An nam Cộng sản Đảng ra đời tại Nam Kỳ (10-1929). Dưới ảnh hưởng của những sự kiện ấy, một tổ chức yêu nước, tiến bộ, thành lập ở Trung Kỳ giữa năm 1925, lấy tên là Tân Việt cách mạng Đảng, sau lại đổi tên là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (1-1930).
Như thế là đầu năm 1930 ở nước ta có 3 tổ chức đều tự nhận là cộng sản và đều tìm cách tranh thủ sự thừa nhận của Quốc tế Cộng sản. Trong khi tuyên truyền vận động quần chúng, ba tổ chức không khỏi công kích, tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng.
Ngày 27-10-1929, Ban chấp hành Quốc tế cộng sản chỉ thị: "Nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp bách nhất của tất cả những người cộng sản Đông Dương là thành lập một đảng cách mạng có tính chất giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một đảng cộng sản có tính quần chúng ở Đông Dương. Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng sản duy nhất ở Đông Dương".
Ngày 3-2-1930 (mùng 5 tết Canh Ngọ) công nhân Phú Riềng chiếm đồn điền trong một ngày - Ngày Tự Do đầu tiên! Cũng ngày đấy, đồng chí Nguyễn ái Quốc với bí danh là Vương, thay mặt Quốc tế cộng sản chủ trì hội nghị thống nhất Đảng tại một ngôi nhà nhỏ xóm lao động thuộc Cửu Long gần Hương Cảng (Trung Quốc) gồm đồng chí Vương (Bác Hồ), đại biểu Đông Dương Cộng Sản Đảng (Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu), đại biểu An Nam Cộng Sản Đảng (Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu). Tân Việt mới chuyển thành cộng sản không kịp cử đại diện.
Thế là Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Hôm ấy, chính cương và sách lược vắn tắt do đồng chí Nguyễn ái Quốc thảo cùng với Điều lệ đảng được thông qua. Hội nghị còn cử Ban trung ương lâm thời đại diện cho 211 đảng viên của toàn Đảng.
Đảng ta ra đời là kết quả tất yếu của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của dân tộc vào cuối những năm 20 của thế kỷ này.
Đảng ta ra đời là một bước ngoặc vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam
Đảng ta ra đời là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên cho thời kỳ vùng dậy oanh liệt nhất và bước nhảy vọt vĩ đại nhất trong lịch sử tiến hòa của dân tộc Việt Nam.
Tháng 10-1930, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ nhất, cùng với việc thông qua bản Luận cương Chính trị do đồng chí Trần Phú, Tổng bí thư đầu tiên của Đảng khởi thảo, Đảng ta mang tên mới là Đảng Cộng sản Đông Dương.
Ngay lúc đó, Đảng ta đã lãnh đạo cao trào 30-31 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Tháng 3-1935, sau cuộc khủng bố trắng của thực dân Pháp, tại Ma Cao (tô giới Bồ Đào Nha trên đất Trung Quốc) Đại hội lần thứ nhất của Đảng đã họp để chuẩn bị cho một cao trào mới.
Tháng 8-1945 chỉ với 5.000 đảng viên, Đảng ta đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, mở ra kỷ nguyên độc lập tự don ở nước ta. Đó là kết quả vĩ đại của cả quá trình 15 năm đấu tranh kể từ khi Đảng ta ra đời (1930-1945).
Tiếp đó, Đảng ta lại lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1954). Đảng ta ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Tháng 2-1951, tại khu rừng thuộc xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa (Tuyên Quang) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng đã họp, nhằm đưa công cuộc Kháng chiến - Kiến quốc đến thắng lợi. Ngày 3-3-1951, Đảng ta ra hoạt động công khai với tên mới là Đảng lao Động Việt Nam, tổng số đảng viên đã lên đến 76 vạn đồng chí.
Giai đoạn 1954-1975 Đảng ta tiếp tục lãnh đạo dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến đấu đầy gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt chống Mỹ, cứu nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đồng thời giương cao hai ngọn cờ Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Qua cuộc đấu tranh vĩ đại ấy, lực lượng của Đảng lớn mạnh hơn bao giờ hết, vượt qua mọi thử thách hy sinh, thực sự là lực lượng tiên phong của cách mạng.
Tháng 9-1960, tại thủ đô Hà Nội, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba, đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà đã khai mạc trọng thể. Đại hội đã nhất trí thông qua đường lối đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại thành công, tháng 12-1976, trong không khí phấn khởi của đất nước vừa thống nhất, Đại hội Đảng lần thứ IV đã họp, nhằm vạch ra con đường đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Với đội ngũ trùng điệp 1 triệu 50 vạn đảng viên, Đảng ta trở lại với cái tên buổi đầu của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong quanh vinh của giai cấp và dân tộc, chuẩn bị đưa Tổ quốc ta đi tới những thắng lợi huy hoàng hơn nữa.

                               LỊCH SỬ NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
         
                                   Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đế quốc Pháp lại đẩy mạnh khai thác thuộc địa Đông Dương. Xã hội Việt Nam tiếp tục phân hóa sâu sắc. Giai cấp nông dân bị phá sản khốc liệt. Giai cấp tư sản dân tộc sinh sau đẻ muộn, bộc lộ sự non yếu về mọi mặt. Một bộ phận giai cấp tiểu tư sản toan phất ngọn cờ tư tưởng tư sản để tập hợp quần chúng xung quanh Việt Nam Quốc dân Đảng (thành lập tháng 12-1927). Nhưng vì bất lực cho nên sau cuộc bạo động non ở Yên Bái (đầu năm 1930) tổ chức đó tan rã, và ngọn cờ phản đế, phản phong, ngọn cờ giải phóng dân tộc chuyển hẳn về tay gai cấp vô sản.
Yêu cầu khách quan lúc này là giai cấp công nhân phải được tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê-nin để trở thành giai cấp "Tự giác" vươn lên đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Đó cũng là lúc đồng chí Nguyễn ái Quốc, tiêu biểu cho tinh thần yêu nước và cách mạng Việt Nam tìm gặp chân lý của thời đại mới.
Năm 1917, cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Mặc dù bị đế quốc bưng bít, xuyên tạc, nhưng "nhân dân Việt Nam cũng thầm nghe nói rằng ở một góc trời xa xăm, có một dân tộc đã đánh đuổi được bọn bóc lột và hiện đang quản lý lấy đất nước mình mà không cần tới bọn chủ và bọn toàn quyền (lời Hồ Chủ tịch).
"Cho một bát vàng không bằng chỉ đàng làm ăn". Cách mạng Tháng Mười Nga đã giúp đồng chí Nguyễn ái Quốc vượt qua sự hạn chế của chủ nghĩa yêu nước của các sĩ phu và của các nhà cách mạng có xu hướng tư sản đương thời. Sau này, phát biểu về cảm xúc của mình khi đọc "luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa, của Lê-nin, Người viết: "Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ. Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta". (Hồ Chí Minh - vì độc lập tự do vì chủ nghĩa xã hội). Tháng 12-1920, tại Đại hội Tua, đồng chí Nguyễn ái Quốc tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp và đồng thời là người cộng sản Việt Nam đầu tiên.
Sớm nhận thấy vai trò lịch sử của giai cấp công nhân, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã đem hết tinh thần và nghị lực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, chuẩn bị về chính trị và tư tưởng cho sự ra đời của chính đảng vô sản ở Việt Nam. Hàng loạt bài viết của Người đăng trên các báo và tạp chí Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân và cuốn sách nổi tiếng Bản án chế độ thực dân Pháp, trong suốt thời gian từ 1921-1926 đã chọc thủng tấm lưới thép của thực dân Pháp, được chuyển về Việt Nam, lôi cuốn đặc biệt những người cách mạng trẻ tuổi đầy nhiệt huyết ở nước ta đang khao khát con đường mới.
Tháng 12-1924, sau khi dự đại hội lần thứ năm Quốc tế Cộng sản, với bí danh là Lý Thụy, Người về Quảng Châu, điểm nóng của cách mạng Trung Quốc, và làm việc dưới danh nghĩa của phái bộ Bô-rô-đin, cố vấn Liên - Xô bên cạnh chính phủ Quốc Dân Đảng Trung Hoa.
Chính ở đây, ngày 19-6-1924, liệt sĩ Phạm Hồng Thái đã ném bom khách sạn Victory ở Sa-diện nhằm giết tên toàn quyền Méc-lanh trên đường công cán đang dự tiệc. Việc không thành, nhưng tấm gương của người anh hùng trên sông Châu như "chim én" báo hiệu mùa xuân".
Tháng 6-1925, trên cơ sở tổ chức yêu nước của Phan Bội Châu và Tâm Tâm Xã, đồng chí Nguyễn ái Quốc thành lập tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, trong đó hạt nhân là Cộng sản Đoàn (lúc đầu có 7 người, cuối 1926 đã có 24 người, tiêu biểu như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong...) Nhiều lớp huấn luyện chính trị được mở tại Quảng Châu để đào tạo cán bộ tung về nước hoạt động. Tuần báo Thanh niên từ tháng 6-1926 và đặc việt cuốn Đường cách mạng (xuất bản năm 1927) đã đề cập đến những vấn đề chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam được bí mật đưa về nước góp phần tích cực vào việc truyền bá tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở trong nước.
Từ sau cuộc bãi công Ba Son (8-1925), phong trào công nhân đã vượt qua giai đoạn tự phát, bước vào giai đoạn tự giác.
Đặc biệt từ mùa xuân 1928, thực hiện chủ trương vô sản hóa, các hội viên của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội đã vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền để tuyên truyền và tổ chức công nhân. Địch phải thú nhận: năm 1929 có tới 43 cuộc bãi công lớn. Phong trào công nhân trên thực tế đã trở thành lực lượng chính trị nòng cốt cho phong trào giải phóng dân tộc.
Trong khi đó, phong trào yêu nước và dân chủ của tiểu tư sản sau thời kỳ phát triển bồng bột (như đòi tha cụ Phan Bội Châu tháng 12-1925, đám tang cụ Phan Chu Trinh tháng 3-1926)... đã dần dần thể hiện sự bất lực của tư tưởng tư sản và tiểu tư sản.
Phong trào Quốc gia cải lương, tiêu biểu là đảng Lập Hiến của Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long cũng đã từng bước đi vào con đường phản bội dân tộc, làm tay sai cho đế quốc.
Tình hình đó đòi hỏi cấp bách sự lãnh đạo của một đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Trong nội bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, từ đầu 1929 đã diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa quan điểm vô sản và quan điểm tiểu tư sản xung quanh vấn đề thành lập Đảng cộng sản ở Việt Nam. Tư tưởng vô sản đã chiến thắng.
Tháng 3-1929, tại số nhà 5D phố Hàm Long (Hà Nội) Chi bộ cộng sản đầu tiên ra đời gồm 8 đồng chí: Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trần Văn Cung, Trịnh Đình Cửu...
Đầu tháng 6-1929, tại số nhà 312 phố Khâm Thiên (Hà Nội) 20 đại biểu cộng sản Bắc Kỳ quyết định lập Đông Dương Cộng Sản Đảng.
Mấy tháng sau, An nam Cộng sản Đảng ra đời tại Nam Kỳ (10-1929). Dưới ảnh hưởng của những sự kiện ấy, một tổ chức yêu nước, tiến bộ, thành lập ở Trung Kỳ giữa năm 1925, lấy tên là Tân Việt cách mạng Đảng, sau lại đổi tên là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (1-1930).
Như thế là đầu năm 1930 ở nước ta có 3 tổ chức đều tự nhận là cộng sản và đều tìm cách tranh thủ sự thừa nhận của Quốc tế Cộng sản. Trong khi tuyên truyền vận động quần chúng, ba tổ chức không khỏi công kích, tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng.
Ngày 27-10-1929, Ban chấp hành Quốc tế cộng sản chỉ thị: "Nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp bách nhất của tất cả những người cộng sản Đông Dương là thành lập một đảng cách mạng có tính chất giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một đảng cộng sản có tính quần chúng ở Đông Dương. Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng sản duy nhất ở Đông Dương".
Ngày 3-2-1930 (mùng 5 tết Canh Ngọ) công nhân Phú Riềng chiếm đồn điền trong một ngày - Ngày Tự Do đầu tiên! Cũng ngày đấy, đồng chí Nguyễn ái Quốc với bí danh là Vương, thay mặt Quốc tế cộng sản chủ trì hội nghị thống nhất Đảng tại một ngôi nhà nhỏ xóm lao động thuộc Cửu Long gần Hương Cảng (Trung Quốc) gồm đồng chí Vương (Bác Hồ), đại biểu Đông Dương Cộng Sản Đảng (Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu), đại biểu An Nam Cộng Sản Đảng (Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu). Tân Việt mới chuyển thành cộng sản không kịp cử đại diện.
Thế là Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Hôm ấy, chính cương và sách lược vắn tắt do đồng chí Nguyễn ái Quốc thảo cùng với Điều lệ đảng được thông qua. Hội nghị còn cử Ban trung ương lâm thời đại diện cho 211 đảng viên của toàn Đảng.
Đảng ta ra đời là kết quả tất yếu của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của dân tộc vào cuối những năm 20 của thế kỷ này.
Đảng ta ra đời là một bước ngoặc vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam
Đảng ta ra đời là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên cho thời kỳ vùng dậy oanh liệt nhất và bước nhảy vọt vĩ đại nhất trong lịch sử tiến hòa của dân tộc Việt Nam.
Tháng 10-1930, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ nhất, cùng với việc thông qua bản Luận cương Chính trị do đồng chí Trần Phú, Tổng bí thư đầu tiên của Đảng khởi thảo, Đảng ta mang tên mới là Đảng Cộng sản Đông Dương.
Ngay lúc đó, Đảng ta đã lãnh đạo cao trào 30-31 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Tháng 3-1935, sau cuộc khủng bố trắng của thực dân Pháp, tại Ma Cao (tô giới Bồ Đào Nha trên đất Trung Quốc) Đại hội lần thứ nhất của Đảng đã họp để chuẩn bị cho một cao trào mới.
Tháng 8-1945 chỉ với 5.000 đảng viên, Đảng ta đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, mở ra kỷ nguyên độc lập tự don ở nước ta. Đó là kết quả vĩ đại của cả quá trình 15 năm đấu tranh kể từ khi Đảng ta ra đời (1930-1945).
Tiếp đó, Đảng ta lại lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1954). Đảng ta ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Tháng 2-1951, tại khu rừng thuộc xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa (Tuyên Quang) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng đã họp, nhằm đưa công cuộc Kháng chiến - Kiến quốc đến thắng lợi. Ngày 3-3-1951, Đảng ta ra hoạt động công khai với tên mới là Đảng lao Động Việt Nam, tổng số đảng viên đã lên đến 76 vạn đồng chí.
Giai đoạn 1954-1975 Đảng ta tiếp tục lãnh đạo dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến đấu đầy gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt chống Mỹ, cứu nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đồng thời giương cao hai ngọn cờ Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Qua cuộc đấu tranh vĩ đại ấy, lực lượng của Đảng lớn mạnh hơn bao giờ hết, vượt qua mọi thử thách hy sinh, thực sự là lực lượng tiên phong của cách mạng.
Tháng 9-1960, tại thủ đô Hà Nội, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba, đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà đã khai mạc trọng thể. Đại hội đã nhất trí thông qua đường lối đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại thành công, tháng 12-1976, trong không khí phấn khởi của đất nước vừa thống nhất, Đại hội Đảng lần thứ IV đã họp, nhằm vạch ra con đường đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Với đội ngũ trùng điệp 1 triệu 50 vạn đảng viên, Đảng ta trở lại với cái tên buổi đầu của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong quanh vinh của giai cấp và dân tộc, chuẩn bị đưa Tổ quốc ta đi tới những thắng lợi huy hoàng hơn nữa.

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2017

                                     NHỮNG BÀI THƠ HAY VỀ MÙA XUÂN

                                    

Những bài thơ lục bát chào đón mùa Xuân về hay nhất

                                                            XUÂN VỀ

                                                                        Tác giả: Lãng Du Khách
Xuân về gọi lộc nảy mầm
Xuân về gọi gió mưa dầm sương bay
Xuân về gọi mắt nai say
Xuân về nắng gọi bàn tay dịu mềm

Xuân về hạnh phúc êm đềm
Xuân về xum họp bên thềm đoàn viên
Xuân về ta cúng tất niên
Xuân về nở nụ cười hiền thắm duyên

Xuân về gọi nắng dịu hiền
Xuân về gọi gió ru miền xanh tươi
Xuân về hoa hé nở cười
Xuân về màu lá xanh tươi ngập tràn

Xuân về du lãng miên man
Xuân về thăm thú cảnh quan thế trần
Xuân về đổi kiếp trầm luân
Xuân về kết dính xa gần thăm nhau

Xuân về xanh ngắt một màu
Xuân về mai nở trắng phau núi rừng
Xuân về chim hót tưng bừng
Xuân về gọi gió ngập ngừng tiễn đông

Xuân về hạnh phúc ấm nồng
Xuân về giá buốt của đông lụi tàn
Xuân về gọi hạ mênh mang
Xuân về sức sống căng tràn thật xuân.

                                                

                                                            XUÂN SANG

Tác giả: Liên Phạm
Xuân về rực thắm cánh đào
Đung đưa trong nắng đón chào tết sang.
Hoạ mi vui hót rộn ràng,
Hương hoa toả ngát mênh mang đất trời...

Lao xao tiếng gió chơi vơi,
Nắng xuân toả nhẹ, đất trời reo ca.
Dịu dàng trìu mến thiết tha
Anh trao em cả chan hoà niềm yêu.

Xuân sang nói hộ bao điều,
Khát khao nồng cháy những chiều giá đông.
Thẹn thùng đôi má ửng hồng,
Ánh mắt say đắm, hôn nồng trao anh!

Xuân về thắm cả trời xanh,
Ngọt ngào giọng nói yến oanh dịu dàng.
Nụ cười rạng rỡ hân hoan,
Xuân ơi! Xuân đến chứa chan ân tình...!

                                                              XUÂN VỀ

Tác giả: Hoàng Trọng Lợi
Xuân về qua ngõ nhà ta
Để quất sai trái để nhà đoàn viên
Xuân về ru mộng thần tiên
Để mai đào nở đông liền mau qua

Gió xuân se lạnh làn da
Em mặc áo mới thật là xinh tươi
Nắng xuân ấm áp tiếng cười
Của bầy em nhỏ vui chơi trong chiều

Xuân mới mang đến bao điều
Công danh sự nghiệp đạt nhiều ước mơ
Xuân về dệt mộng tình thơ
Lứa đôi hạnh phúc duyên tơ thắm nồng

Xuân về vạn vật ước mong
Già trẻ trai gái trong lòng sướng vui
Cỏ cây hoa lá xinh tươi
Đàn chim ríu rít trong trời mùa xuân.

                                                       LỤC BÁT MÙA XUÂN VỀ

Tác giả: Liên Phạm
Xuân về nắng toả ngọt ngào
Dịu dàng, âu yếm gửi trao ân tình
Môi hồng đón gió càng xinh
Tóc bay nhè nhẹ hương tình càng say...

Nụ cười ấm cả trời mây
Xuân về hoa lá cỏ cây vui cười,
Hương thơm tỏa khắp muôn nơi
Đâu đâu cũng thấy ngập trời sắc xuân.

Giọt sương óng ánh trong ngần
Niềm vui dào dạt, hân hoan đón chờ.
Đời đẹp như những giấc mơ
Du dương bản nhạc, lời thơ rộn ràng...
TRƯỜNG THCS LÝ TỰ  TRỌNG- TAM KỲ
PHÁT QUÀ TẾT CHO HỌC SINH NGHÈO - KHÓ KHĂN
              Sáng nay, sáng ngày 16/01/2017, Trường THCS Lý Tự Trọng, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam và đại diện Công ty CP kinh doanh địa ốc Hưng Thịnh, quận 1, TP. HCM trao hơn 1000 cuốn vở cho hoc sinh thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo khó khăn của nhà trường. Đồng thời, Hôi chữ thập đỏ nhà trường đã trao 64 xuất quà Tết cho học sinh khó khăn với tổng trị giá 32 triệu đồng. Với những phần quà này, nhà trường hi vọng sẽ giúp cho bản thân và gia đình của các bạn thêm một chút ấm áp hơn trong dịp Tết đến, xuân về.

Thứ Năm, 10 tháng 11, 2016

NGÀY CON VỀ



Truyện ngắn

Nó là cái con bé nổi tiếng đanh đá và nghịch ngợm nhất trường. Đó là nhận

xét của hầu hết các thầy cô từng dạy nó. Chưa có bất kì thầy cô nào chịu nổi nó

cả. Mẹ nó khóc, bố nó thở dài bất lực với đứa con gái duy nhất của mình.

Năm học mới bắt đầu, tiếng trống trường vang lên. Tất cả các học sinh vào

lớp. Giáo viên chủ nhiệm mới của lớp nó bước vào, đảo mắt nhìn quanh rồi mỉm

cười cho lớp ngồi xuống. Như bao năm trước, như bao giáo viên khác, cô cũng

giới thiệu bản thân mình với các học sinh mới. Cô tên Hà, 38 tuổi, giáo viên Văn,

dáng người nhỏ bé và cách nói chuyện rất duyên, trông cô rất hiền. Sau khi giới

thiệu, cô bắt đầu điểm danh lớp, tổng số lớp có 41 học sinh nhưng hiện tại chỉ có

40 học sinh, vắng 01, đó chính là nó - Nguyễn Thanh Nga. Một lúc sau, nó xuất

hiện, hiên ngang bước vào lớp như không có bất kì sự tồn tại nào của mọi người

xung quanh. Cô khẽ nhíu mày vì thái độ vô lễ của nó. Cô gọi nó lên hỏi. Nó cười

đắc ý và thản nhiên bước lên. “Em là Thanh Nga hả?” “ Vâng !” nó đáp cụt lủn.

“Sao em lại đi trễ ?” - Cô lại tiếp tục hỏi nó . “Ngủ quên!” Cô lắc đầu nhìn nó rồi

cho nó về chỗ. Đến giờ ra về, cô đợi cho tất cả học trò về hết rồi nán lại lớp. Cô

trầm ngâm suy nghĩ về cách để “thuần hóa” cô học trò này. Ngày hôm sau đến

lớp, cô lại nhận được những lời phản ánh của các giáo viên bộ môn khác. Cô bước

vào lớp, nó đã chuẩn bị sẵn tinh thần để nghe cô “giáo huấn” nhưng không! Cô im

lặng chẳng hề nhắc gì đến chuyện đó. Nó thắc mắc vì sao cô không mắng nó, thế

rồi trong giờ học nó lại càng chọc phá các giáo viên nhiều hơn. Rồi một lần, hai

lần, ba lần…nhưng cô cũng chả đã động gì đến nó. Nó đâm chán rồi thôi cái trò

chọc phá mọi người thay vào đó nó ngủ suốt giờ học. Kết quả học tập của nó vẫn

cứ dậm chân ở con điểm một, hai. Rồi hôm đó, có giờ văn của cô, cô đặt ra một

câu hỏi, không một ai trả lời được, rồi bất giác nó giơ tay. Cô mỉm cười rồi mời nó,

nó ngượng ngùng và dè dặt đưa ra câu trả lời. Trả lời xong, nó sượng đỏ mặt ngồi

xuống, không gian im lặng bao trùm nó càng khiến nó ngột ngạt hơn. Và giây sau,

cô lại mỉm cười và bảo đó là câu trả lời đúng. Dường như tim nó đã ngừng đập vài

giây, rồi nó cũng nở một nụ cười, cả lớp không thể tin nó là cái con chuyên gia

nghịch phá mọi ngày. Đã lâu lắm rồi, nó không được mọi người tán dương như

thế. Rồi sau cái ngày hôm đó nó được “thăng” lên chức Ban cán sự bộ môn Văn.

Nó thấy vui về điều đó nhưng nó cũng lo lắng lắm! Bắt đầu từ đó, cứ hôm nào có

môn văn, nó đều chuẩn bị bài và học thuộc bài ở nhà thật kĩ để không xấu hổ với

bạn bè. Cả lớp đã rất bất ngờ vì sự thay đổi của nó, cả cô cũng vậy nhưng cô

không ra mặt khen nó, cô vẫn cứ im lặng. Có nhiều lúc trong giờ 15 phút đầu giờ,

cô nhờ nó tính toán giúp cô vài thứ, có khi cô lại nhờ nó kèm giúp mấy bạn yếu

toán ở lớp. Nó không dốt nhưng lâu nay nó không chịu học vì thế nhiều lúc nó

cũng tắt tịt. Nó về nhà lục lại sách vở toán, nó học lại toàn bộ, rồi cố làm đi làm lại

cho nhớ để nhỡ lần sau cô có nhờ thì nó cũng sẽ không đỏ mặt vì không làm

được. không biết từ bao giờ nó không muốn cô thất vọng về nó nữa. Những tiết

học sau, nó được các thầy cô khen ngợi rất nhiều nhưng riêng cô chủ nhiệm của

nó thì không. Nó buồn vì điều đó. Vào ngày sinh nhật nó, cô đã đợi đến cuối giờ,

gọi nó lên và đưa cho nó hộp quà nhỏ, vẫn nụ cười quen thuộc, cô bước đi để lại

nó đứng trơ ở đó. Nó ngồi thụp xuống , sống mũi cay cay, mặt nó nhòa đi. Từ cái

ngày gia đình nó lâm vào cảnh nợ nần, bố, mẹ cải vã rồi li dị đến nay chằng ai

quan tâm đến nó cả vì thế mà tình hình học tập của nó cũng chểnh mảng theo. Cô

khiến nó hạnh phúc quá! Về nhà mở lá thư mà cô gửi ra, cô viết rất ngắn gọn: “

Em là một cô học trò ngoan ! Cô biết hoàn cảnh gia đình em khó khăn nhưng hãy

mạnh mẽ vượt qua tất cả. Cô tặng em chiếc gương, mong em sẽ chiến thắng

chính bản thân mình. Yên tâm vì luôn có cô bên cạnh !” Nó xúc động quá, cô như

mẹ nó vậy! Bây giờ nó mới hiểu, người giúp nó thay đổi bản thân trong thời gian

qua chính là cô chứ không phải ai khác. Cô không vô tâm như nó nghĩ mà thật ra

cô đang âm thầm giúp nó nhận ra những sai lầm của bản thân. Nó thầm cảm ơn

cô. Từ đó, nó cố gắng trở thành một học sinh ngoan như cô đã từng nói. Rồi thời

gian qua, năm học cuối cấp cũng hết. Ngày bế giảng nó đã không kìm được những

giọt nước mắt, nó ôm chầm lấy cô. Trong lúc này, nó muốn gửi một lời cảm ơn

chân thành nhất đến cô, nhưng không hiểu sao cổ họng nó nghẹn lại không nói

thành lời. Nó cúi đầu chào tạm biệt cô, tạm biệt ngôi trường cấp trung học cơ sở

đầy ắp những kỷ niệm khó quên.

Ngày 20/11 năm nay nó quay lại trường để thăm lại người cô kính yêu và

báo tin nó đã đậu trường chuyên. Nhưng ở phòng Hội đồng nó không gặp cô, nó

hỏi các giáo viên khác về cô thì hay tin cô đã chuyển công tác vào miền Nam. Nó

như muốn khuỵu xuống, Nó hối hận sao ngày đó nó không cảm ơn cô, sao ngày

đó nó không nói biết ơn cô thật nhiều. Nó hối hận quá! Nếu ngày đó, cô không tin

tưởng nó, cô không giúp đỡ nó thì có lẽ cho đến ngày hôm nay nó vẫn là một con

bé hư hỏng và đã trở thành một thành phần xấu của xã hội. Trong thâm tâm của

nó, cô vẫn là người cô tuyệt vời nhất đời nó, là người mẹ hiền thứ hai của nó.

Trương Thị Phúc Nhân – Lớp 9/2

CHÂN DUNG NGƯỜI THẦY



Mỗi người thầy là một tấm gương soi

Thật vô cùng tự nhiên và giản dị

Trang giáo án bên ánh đèn tri kỷ

Lấy chính mình làm nên sắc nên hương

Lấy chính mình để ví với gió hương

Cái cần mẫn chìm sâu trong rễ

Cái gai gọc để lẫn vào cành lá

Chắt chiu thành chân lý trước vầng dương

Thầy lấy mình tạo dựng một thiên đường

Rất thân thiện giữa bao lớp học trò

Lòng hiến dâng cho những gì cao đẹp

Đọng lại thành quả hạt để mùa sau

Tháng năm dài hạnh phúc với khổ đau

Người thầy giáo bao buồn vui lo nghĩ

Đàn em nhỏ mỗi ngày thêm khôn lớn

Chợt thấy lòng trong sáng đến thơ ngây.

Nguyễn Huỳnh Khánh Bảo.

ƠN THẦY CÔ


Mùa hè đã đi qua

Mùa thu về mọi nẻo

Trời trong xanh leo lẻo

Khoác vội áo khai trường

Em đến lớp thân thương

Đón chào bao điều mới

Thầy cô – người khơi gợi

Cho em bước vào đời

Thầy dạy em bài toán

Cô dạy cách làm thơ

Thầy giúp em gợi mở

Cô chăm bẵm ước mơ

Tình thầy cao như núi

Nghĩa cô rộng như sông

Cuộc đời dù rất rộng

Chẳng bằng ơn cô thầy!

Thi Thị Bích Thư.

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2015

TIỂU SỬ ANH HÙNG KA-PA KƠ-LƠNG

TIỂU SỬ ANH HÙNG KPA-KƠ-LƠNG

Kpă KLơng hay Kpa Kơ lơng (1948-1975)  là một Anh hùng lực lượng vũ trang nhân 

dân của Quân Giải phóng miền Nam Việt nam, người dân tộc Gia Lai ở tỉnh Kon 

Tum – Việt Nam. Ông đã tham gia Chiến tranh Việt với tư cách là một đội viên du 

kích từ khi mới 15 tuổi và sau đó là một chiến sĩ trinh sát của bộ đội huyện Chư 

Prông từ năm1965, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam . Ông nổi tiếng với biệt tài 

bắn "xuyên táo", có thể nổ súng giết nhiều kẻ địch với ít viên đạn .

Theo lời kể lại, cha của Klơng bị chính quyền VNCH giết trong 1 cuộc nổi dậy của 

dân làng. Kơ-lơng quyết chí trả thù. Khi 13 tuổi, xin tham gia đội du kích của Mặt 

trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam nhưng bị từ chối vì tuổi còn nhỏ. Kơ-lơng tự làm 

lấy nỏ vót tên, phục kích bắn bị thương 1 lính VNCH nhưng người này không chết vì 

tên không tẩm thuốc.

Klơng xin người già mũi tên có thuốc và bắn chết liên tiếp ba lính.Với chiến công 

này, đủ để thuyết phục các chỉ huy dân quân địa phương cho anh gia nhập. Xã đội 

trưởng Kpuih Blang cấp cho klơng 1 khẩu súng trường K-44 chỉ có vẻn vẹn ba viên 

đạn với điều kiện: "phải hạ ba tên giặc". Kơ-lơng đã bắn như sau: anh bí mật bám 

sát, đợi lính địch xếp thành một hàng thẳng thì sẽ bắn xuyên táo. Phát thứ nhất, phát 

đạn xuyên 3 lính, 2 người chết tại chỗ. Phát thứ hai "xâu táo" cùng lúc 5 lính. Klơng 

rút về làng và nộp lại viên đạn thứ 3. Với năng lực này, Klơng chính thức được vũ 

trang, trở thành đội trưởng đội du kích huyện.

Kpă có lối đánh độc đáo: núp lùm đợi thời cơ, bất ngờ tiêu diệt đối tượng ở cự li gần 

rồi bỏ chạy trước khi bị bắn trả. Đến một trận khác, Kơ-lơng bắn 3 viên hạ 7, và 7 

viên hạ 19! Lối đánh đặc biệt được du kích áp dụng nhanh chóng và gây một số tổn 

Tới năm 15 tuổi, Klơng đã cùng đội du kích địa phương đánh 30 trận, giật 12 quả 

mìn, lật nhào 8 xe cơ giới, hạ 88 lính, trong đó có 4 người Mỹ

Khi đã đủ 17 tuổi, Klơng viết đơn xin gia nhập Quân Giải phóng miền nam. Anh 

được cấp trên điều làm trinh sát của huyện đội 5, bộ đội địa phương tỉnh Gia Lai.

Trong đơn xin gia nhập quân đội, Kơ-pa Kơ-lơng viết:

Em đã giết ba mươi bốn tên Mỹ-Diệm, phá được tám xe cơ giới. Nay em đã lớn, xin 

cấp trên cho em được làm giải phóng quân.

Ngày 17/9/1967 , ông được tuyên dương  Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Sau 

sự kiện 1975, ông vẫn là một sĩ quan Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, tiếp tục công 

tác giữ vững an ninh vùng núi rừng Tây Nguyên (quân khu 5). Ông hy sinh ngày 28-

8-1975, cấp bậc thượng úy, tham mưu phó Tỉnh đội Gia Lai.